Đọc Hoàng Văn Lược
Nghĩ về thơ ca thời mở cửa
TRẦN ĐĂNG KHOA
I
Nói “thơ ca thời mở cửa”, nghe nó cứ lạ lẫm thế nào. Quả chúng ta đang sống trong “thời mở cửa”, có nền kinh tế “mở cửa”, là kinh tế thị trường “theo định hướng Xã hội chủ nghĩa”. Nhưng liệu có “thơ ca thời mở cửa” không?
Có đấy!
Đó chính là thơ ca đương đại của ta. Thơ của “thời mở cửa”, thời chúng ta đang sống.
Tôi còn nhớ cách đây chừng hơn ba chục năm gì đó, tôi cùng anh bạn thân thời học phổ thông ở quê, là nhà báo Trịnh Bá Ninh, phóng viên báo Nông nghiệp Việt Nam đến thăm nhà thơ Xuân Diệu. Tôi cũng đã giới thiệu rất rành mạch với Xuân Diệu rằng, bạn tôi không phải thi sĩ. Anh đang công tác ở Bộ Nông nghiệp. Ấy vậy mà, không hiểu sao, nhà thơ Xuân Diệu lại cứ đinh ninh anh bạn tôi ở Bộ Lâm nghiệp. Và thế là ông bỗng nổi đóa lên: “Cậu ở Bộ Lâm nghiệp, vậy cậu… cậu có biết vì sao những năm gần đây lại có nạn mất mùa, lũ lụt liên miên không? Ấy là vì người ta đã phá rừng bừa bãi. Phá rừng làm gì các cậu biết không? Để lấy gỗ làm giấy in thơ đấy! Chưa bao giờ thơ ca lạm phát như bây giờ. Nhìn đâu cũng thấy thơ. Đi đến xó xỉnh nào cũng gặp nhà thơ. Trước đây cả nước đọc thơ. Bây giờ thơ chỉ có nhà thơ đọc. Không khéo cứ cái đà này, rồi sẽ đến cái ngày mà các nhà thơ cũng chẳng thèm đọc của nhau nữa. Lúc ấy ai làm thơ thì người đó tự đọc thôi…”
Đó là một buổi chiều cuối năm 1985. Khi ấy chúng ta vẫn sống trong thời bao cấp. Thơ xuất hiện trên các mặt báo quả cũng nhiều thật, nhưng đâu đã sum suê, phong phú được như ngày nay. Bây giờ, tính trung bình, mỗi ngày có từ ba đến bảy tập thơ tung ra thị trường. Thơ xuất hiện ồ ạt, nhưng đời sống thơ ca cũng đâu đến nỗi bi đát như thi sĩ Xuân Diệu cảnh báo. Còn nhớ thời bao cấp, in được một tập thơ rất vất vả. Có khi phải xếp hàng đến cả chục năm. Rồi chen chúc năm, sáu tác giả in chung một tập. Thơ in báo cũng được kiểm duyệt rất chặt chẽ. Có nhà thơ đi đâu cũng nhăn nhó đau khổ, vì có câu thơ tâm đắc nhất, lại bị biên tập “thiến”mất. “Ôi dào, tiếc quá nhỉ. Cái lão biên tập ấy cũ rích rồi, có biết gì về thơ ca hiện đại. Sao cậu không chuyển bản thảo cho tớ. Trên đời này, chỉ có mỗi tớ là hiểu được cậu thôi”. Thế rồi đến khi bản thảo tới tay, ông biên tập rất hiểu “thơ hiện đại” và cũng rất hiểu bạn ấy, lại vẫn cứ cắt cái câu mà nhà biên tập “cũ rích” kia loại bỏ. Tài thật! Các nhà biên tập của ta ngoài đời có khi cũng chẳng ưa gì nhau, thế mà trên bàn biên tập, họ lại rất giống nhau ở cái khoản “đồng tâm nhất trí”, cứ như họ là những người được đúc ra từ một khuôn vậy. Thế là lại đau khổ. Những năm ấy, hầu như nhà thơ nào cũng có thơ riêng, gọi là thơ “bỏ túi”. Gặp nhau lại thầm thầm thì thì đọc cho nhau nghe. Làm thơ mà cứ rầm rì như buôn bạc giả. Cũng theo lời các thi sĩ ấy thì đó mới là thơ thứ thiệt. Chỉ tiếc những tác phẩm thứ thiệt ấy lại không thể nào xuất hiện được dưới vầng mặt trời. “Bài thơ này của tớ mà in ra được thì sẽ có khối thằng chết. Nghĩa là thiên hạ cứ bẻ bút, không dám làm thơ nữa. Chỉ tiếc nó không thể ra được thôi. Thế mới đau chứ!”. Nhiều cây bút cứ đăm chiêu, nhầu nhĩ, với gương mặt nhàu nát của một thiên tài bị người đời quên lãng.
Bây giờ ai làm thơ cũng có thể tự công bố được thơ mình. Tất cả những tác phẩm từng lấp la lấp lóe sáng trong bóng tối kia đều đã được phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật. Mới hay chẳng có ai “bẻ bút” cả, cũng chẳng thấy ai “chết”. Chỉ có những con chữ đen đúa, cong queo “chết” trên trang giấy thôi. Mà “chết” im lắm. Chẳng thấy kèn trống, cờ quạt gì…
Thời mở cửa cho chúng ta nhiều ân huệ. Chí ít nó cũng giúp ta hiểu đúng ta, bớt đi những ảo tưởng không cần thiết. Mọi năng lực đều được giải phóng. Không còn sự ngán ngẩm:
Tôi tiếc những chân trời không có người bay
Lại tiếc những người bay không có chân trời…
Trần Dần
Bây giờ nhìn khắp bốn phương, nhìn ngay xuống dưới gót chân mình, đâu cũng là “chân trời” cả. Ai có tài bay thì cứ việc bay đến hết tốc lực. Không ít nhà thơ, nhà phê bình thơ lại kêu về sự xuống cấp thơ. Thơ đang bị “nghiệp dư” hóa. Tôi thấy sự thực thì cũng chẳng đến nỗi phải bi quan như vậy. Không có thơ nghiệp dư và thơ chuyên nghiệp, cũng như làm gì có thơ Địa phương và thơ Trung ương. Chỉ có thơ hay và thơ dở. Vậy thôi. Thơ dở thì thời gian sẽ tự đào thải, dù nhà phê bình có tìm mọi cách quảng bá, hay hào phóng tiếp cho nó sức sống bằng những lời có cánh, hoặc phun hỏa mù là “thơ hiện đại”, “thơ kén độc giả” thì nó cũng chẳng thể nào sống được. Còn thơ hay, thì dù có bị lườm nguýt, dèm pha, hay ném vào lửa, nó vẫn cứ trường tồn. Thơ ca không bao giờ là của riêng ai, hay chốn độc quyền của bất cứ ai. Nó là ngôi đền thiêng không có cửa, hay nói một cách hình tượng như nhà thơ Xuân Diệu:
Đây là quán tha hồ muôn khách đến
Đây là bình thu hợp ý muôn phương…
Đã là quán thì ai cũng có thể ghé chân qua. Bởi thế xứ thơ bao giờ cũng rộng mở, đông vui và náo nhiệt. Có người ngay từ những bước đầu tiên đã vào được ngôi đền thiêng thi ca, rồi trụ lại làm bảng vàng bia đá. Có người chưa tới được cửa đền đã biến mất vô tăm tích. Có người càng đi, càng xa cái đích mà mình cần đến. Làm thơ là một việc khổ ải. Bởi thế có thi sĩ đã coi nhà thơ như một người lao động khổ sai, hay một anh “phu chữ” cực nhọc. Vì vậy, ai đến với thơ, chúng ta cũng đều yêu mến, kính trọng. Bởi thi sĩ là hạng người rất đáng được kính trọng.
II
Trong số những người tìm đến ngôi đền thiêng thi ca có Hoàng Văn Lược. Anh là Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Liên doanh xi măng Việt – Nhật Nghi Sơn. Anh không có ý đồ làm một thi sĩ, dù viết thơ đã rất lâu rồi. Hoàng Văn Lược có thơ từ những năm Sáu mươi, Bảy mươi của … thế kỷ trước. Đối với anh, thơ ca là thú chơi tao nhã. Nhiều người cũng có thú chơi như anh. Bởi thế, chúng ta có rất nhiều nhà chính trị, nhà khoa học, nhà quản lí làm thơ. Trong số đó, có người làm thơ rất hay. Cùng với họ, còn xuất hiện nhiều câu lạc bộ thơ ở các thành phố, thôn quê và làng bản. Đấy là dấu hiệu của một thời đại thanh bình và phồn thịnh chăng?
Nói Hoàng Văn Lược lặn lội tìm đường đến với thơ ca hình như cũng lại là sự áp đặt. Đúng hơn, chính những nỗi niềm buồn vui của cõi đời thường nhật đã tìm đến anh để tỏ bày. Hoàng Văn Lược làm thơ rất hồn nhiên. Anh không quan tâm đến chuyện tìm tòi cấu tứ, cũng không vật vã gò chữ, dũa câu khổ hạnh như các thi nhân. Thơ với anh như hơi thở. Bình thường có mấy ai để ý đến hơi thở làm gì, trừ những người mắc bệnh về hô hấp. Anh cứ nghĩ sao thì viết vậy. Nói như nhà phê bình Hoài Thanh, anh có “làm thơ” đâu. Anh cứ để cõi lòng đang yêu dào dạt tràn ra trang giấy. Bài thơ hết thì tự nó kết thúc chứ anh cũng không can thiệp vào cõi thiên nhiên.
Vâng, tôi nói Hoàng Văn Lược đang yêu, vì quả đúng như vậy. Nửa vầng trăng là một tập thơ tình. Dù trong sản vật “quà tặng tình yêu” này, cũng có sản phẩm anh “thửa” riêng để dâng cha dâng mẹ. Cũng nhờ thế, ta biết được mẹ anh là một người phụ nữ xứ Thanh, hiền dịu, hết lòng vì chồng con. Còn cha anh là một nhà cách mạng lão thành. Thi thoảng, ta cũng gặp trong “cõi yêu” này tiếng thở dài ngán ngẩm về những chuyện chạy quyền, chạy chức. Chuyện có vẻ lạc lõng ở xứ yêu. Mới hay người mang trái tim yêu ấy đang sống, đang hít thở trong cõi phàm trần đầy cát bụi này, dù cuộc tìm kiếm của chàng lại ở xa tít trên … cung mây.
Bố mẹ sinh ta. Dù bậc sinh thành có thương ta đến đâu, cũng chỉ cho ta có một nửa thôi. Dù tốt đẹp thế nào thì cũng chỉ là một nửa. Nửa còn lại, ta phải tự tìm kiếm. Và cuộc tìm kiếm mới gian nan, khổ ải biết bao. Nói như nhà thơ Tế Hanh: “Nước mắt song song với nụ cười”, còn Xuân Diệu thì “Yêu là chết ở trong lòng một ít”. Tôi không biết lúc nào Hoàng Văn Lược gặp “nước mắt” hay “nụ cười”? Anh đi tìm một nửa cho mình, nhưng lại là “Nửa vầng trăng” kia. Hóa ra đó là cuộc tìm kiếm ở trên Cung Quảng. Vì thế, theo dấu chân yêu của Hoàng Văn Lược, càng đi, ta càng thấy hoang lạnh. Nhiều khi lại hỗn mang, không thể nhận ra đâu là đường, đâu là sông tuyết, băng giá? Một nửa anh tìm cũng rất mung lung. Người đang yêu nào trong cuộc tìm kiếm mà chẳng có cảm giác như thế. Vẻ đẹp lộng lẫy kiêu sa bừng lên trước mặt ta kia là nàng tiên giáng thế hay một con yêu tinh đang ẩn hình. “Em là ai?” Hoàng Văn Lược thường thảng thốt như thế.
Anh đã gặp hoặc chưa từng quen biết
Em ở nơi này hay mãi tận trời xa
Em rất quen hay là còn rất lạ
Đôi khi cô nàng cũng hiện lên tưởng như rất cụ thể. Đó là cô hàng xóm ở bên cầu ao: “Nhà nàng có cái cầu ao. Bao lần tôi định vượt rào sang chơi”. Nhưng “vượt rào” đâu có dễ. Ngày xưa Nguyễn Bính cũng chỉ cách giai nhân có mỗi cái “dậu mồng tơi”, mà rồi cái bờ dậu mỏng manh sương khói ấy vời vợi một âm dương cách trở. Hoàng Văn Lược cũng chỉ cách nàng có mỗi cái cầu ao, mà rồi xem ra cũng vẫn mù mịt khói sương:
Bờ ao tôi ở bên này
Cầu ao bên ấy bụi cây hoa vàng
Chiều chiều thấp thoáng bóng nàng
Cầu ao bên ấy ném sang nụ cười
Lòng tôi những mớ rối bời
Tơ vương giăng kín bầu trời bao la
Tưởng chuyện trần gian, hóa ra cũng lại trên Cung trăng. Và cái gì đến đã đến. Chàng trai mang trái tim yêu trở về làng. Làng đã hóa phố trong cuộc biến thiên dâu bể:
Nay về ao đã lấp đầy
Nhà xưa giờ đã tường xây, cổng rào…
Thơ Hoàng Văn Lược là thế. Cũng lạ. Một nhà quản lý kinh tế mà trong tâm hồn chẳng thấy một mảy bụi kinh tế đâu. Chỉ phập phồng một trái tim yêu. Trái tim của một chàng trai mười tám tuổi. Với người đang yêu, trước vẻ đẹp giai nhân, thường choáng ngợp. Tỉnh táo, từng trải như các cụ ta xưa mà còn mụ mị:
Thấy em như thấy mặt giời
Chói chang khó ngắm, trao lời khó trao
Một thi sĩ rất lớn của chúng ta cũng rợn ngợp:
Bởi em xinh quá, yêu, yêu quá
Nên tôi bối rối, nói không đều
Ta cũng thấy tràn ngập trong cõi yêu Hoàng Văn Lược những khoảnh khắc “bối rối” như thế. Những người tỉnh táo, phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” có thể bắt bẻ hơi thở “không đều” của anh ở chỗ này, hay chỗ kia. Thiết tưởng anh cũng có thể trả lời theo cách lý giải của Xuân Diệu: “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá! Chỉ biết yêu thôi, chả biết gì!”
Người như thế là hạnh phúc lắm. Mừng cho chàng Hoàng Văn Lược:
Anh chỉ thầm mong nhớ em thôi
Như thế là anh hạnh phúc rồi
Thực tình cũng chẳng sao hiểu nổi
Lúc nào cũng chỉ nhớ em thôi!
Hà Nội, 18-11-2010
Trần Đăng Khoa
Tập thơ “Nửa vầng trăng” – Hoàng Văn Lược

Chữ ký của nhà thơ Trần Đăng Khoa trong tập thơ “Nửa vầng trăng”